Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 18-25/5: Đa phần tăng giá, trong khi vàng, đồng và khí đốt giảm mạnh

- Advertisment -
Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 18-25/5: Đa phần tăng giá, trong khi vàng, đồng và khí đốt giảm mạnh

Năng lượng: Giá dầu và khí đốt đều giảm

Trên thị trường dầu mỏ, Giá dầu tăng ở phiên 24/5, nhưng giảm trong tuần do dự đoán rằng dữ liệu kinh tế mạnh mẽ của Mỹ sẽ khiến lãi suất tăng trong thời gian dài hơn, hạn chế nhu cầu nhiên liệu.

Cụ thể, giá dầu thô Brent giao tháng 7/2024 tăng 76 US cent (+1%) lên 82,12 USD/thùng; hợp đồng tháng 8/2024 cũng tăng 73 US cent lên 81,84 USD/thùng. Dầu thô Mỹ (WTI) tăng 85 US cent (+1,1%) lên 77,72 USD.

Vào thứ Năm (23/5), giá dầu Brent đóng cửa ở mức thấp nhất kể từ ngày 7/2/2024 và dầu WTI ở mức thấp nhất kể từ ngày 23/2/2024.

Tính cả tuần, giá dầu Brent giảm 2,1% với 4 phiên giảm liên tiếp – chuỗi giảm dài nhất kể từ ngày 2/1/2024; còn dầu WTI giảm 2,8%.

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell và các nhà hoạch định chính sách khác cho biết họ cảm thấy khó có khả năng tăng lãi suất thêm nữa. Lãi suất cao hơn làm tăng chi phí vay, có thể làm chậm hoạt động kinh tế và làm giảm nhu cầu về dầu.

Về phía cung, số giàn khoan dầu – một chỉ số sớm về sản lượng tương lai, không thay đổi ở mức 497 giàn trong tuần qua, Công ty Dịch vụ năng lượng Baker Hughes cho hay.

Trong khi đó, thị trường đang chờ cuộc họp vào ngày 2/6/2024 của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) để thảo luận về việc có nên gia hạn mức cắt giảm sản lượng dầu tự nguyện 2,2 triệu thùng mỗi ngày hay không. Các nhà phân tích phần lớn dự đoán rằng, việc cắt giảm sản lượng hiện tại sẽ được kéo dài ít nhất đến cuối tháng 9/2024.

Trên thị trường khí đốt, giá khí tự nhiên tại Mỹ giảm xuống mức thấp nhất 1 tuần do dự báo nhu cầu trong 2 tuần tới sẽ giảm, tình trạng dư cung khí đốt và các dấu hiệu giá tăng cao gần đây sẽ khiến các nhà khoan dầu ngừng cắt giảm sản lượng.

Cụ thể, giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 6/2024 trên sàn New York giảm 13,7 US cent (-5,2%) xuống 2,52 USD/mmBTU – thấp nhất kể từ ngày 16/5/2024. Tính chung cả tuần, giá giảm 4% sau khi tăng 63% trong 3 tuần trước đó.

Kim loại: Giá vàng và đồng giảm mạnh, quặng sắt và thép tăng

Ở nhóm kim loại quý, giá vàng tăng do USD giảm, song có tuần giảm mạnh nhất trong 5 tuần qua, do kỳ vọng việc cắt giảm lãi suất của Ngân hàng Trung ương Mỹ bị dập tắt.

Cụ thể, vàng giao ngay trên sàn LBMA tăng 0,2% lên 2.332,77 USD/ounce do USD giảm 0,4%, khiến vàng trở nên rẻ hơn khi mua bằng tiền tệ khác. Vàng kỳ hạn tháng 6/2024 trên sàn New York giảm 0,1% xuống 2.334,5 USD/ounce.

Trong phiên đầu tuần qua (20/5), giá vàng đạt mức cao kỷ lục 2.449,89 USD/ounce, song kể từ đó giảm hơn 100 USD/ounce. Tính chung cả tuần, giá vàng giảm 3% – tuần giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 12/2023.

Giá bạc tăng 0,5% lên 30,25 USD/ounce, sau khi đạt mức cao nhất 11 năm trong phiên ngày 20/5/2024.

Ở nhóm kim loại màu, giá đồng giảm do lo ngại lãi suất tăng cao và nhu cầu tại Trung Quốc giảm. Cụ thể, giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,8% xuống 10.331,5 USD/tấn.

Trong phiên 20/5, giá đồng đạt mức cao kỷ lục 11.104,5 USD/tấn, được thúc đẩy bởi hoạt động đầu cơ, song có tuần giảm 3% – tuần giảm mạnh nhất kể từ tuần kết thúc ngày 9/2/2024.

Nhu cầu tại Trung Quốc – nước tiêu thụ đồng lớn nhất thế giới – suy giảm bởi giá tăng cao. Ngoài ra, giá đồng giảm còn do số liệu kinh tế từ Mỹ và Đức tăng mạnh, thúc đẩy triển vọng lãi suất vẫn duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn ở cả 2 bờ Đại Tây Dương.

Ở nhóm kim loại đen, giá quặng sắt kỳ hạn tăng trở lại trong phiên cuối tuần 24/5 và hướng tới mức tăng hàng tuần thứ hai do hy vọng còn sót lại về nhu cầu ngày càng tăng ở nước tiêu dùng hàng đầu Trung Quốc nhờ một loạt kích thích tài sản.

Cụ thể, hợp đồng quặng sắt giao tháng 9/2024 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên, Trung Quốc tăng 0,16% lên 913,5 CNY (tương đương 126,08 USD)/tấn và tăng 3,2% trong tuần.

Giá quặng sắt chuẩn giao tháng 6/2024 trên Sàn giao dịch Singapore tăng 1,13% lên 120,9 USD/tấn và tăng 3% trong tuần.

Các nhà phân tích tại Huatai Futures cho biết, tâm lý chung vẫn tích cực được củng cố bởi các chính sách kích thích bất động sản mới nhất. Trung Quốc đã công bố các bước đi “lịch sử” nhằm ổn định lĩnh vực bất động sản đang bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng, giải quyết hàng tồn kho và thúc đẩy nhu cầu của người mua nhà, với việc một số thành phố giảm lãi suất trả trước và lãi suất cho vay thế chấp như một phản ứng.

Ngoài ra, nhà phát triển bất động sản lớn đang thiếu tiền mặt tại nước này cho biết, họ đã nhận được khoản vay hợp vốn trị giá 20 tỷ CNY.

Giá của nguyên liệu sản xuất thép quan trọng đã chịu áp lực giảm do các nhà đầu tư và thương nhân đánh giá lại triển vọng nhu cầu trong ngắn hạn, sau khi sản lượng kim loại nóng mới nhất không đạt kỳ vọng và tồn kho tiếp tục tăng.

Dữ liệu từ Công ty Tư vấn Mysteel cho thấy, sản lượng kim loại nóng trung bình hàng ngày của các nhà sản xuất thép được khảo sát đã tạm dừng mức tăng trong 7 tuần lên 2,37 triệu tấn tính đến ngày 24/5, trong khi tồn kho quặng tăng 0,3% trong tuần – lên khoảng 148,55 triệu tấn.

Giá các nguyên liệu sản xuất thép khác trên DCE ghi nhận mức tăng cao hơn, với giá than cốc và than luyện cốc lần lượt tăng 0,39% và 1,11%.

Điểm chuẩn thép trên Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải (SHFE) không đồng đều. Giá thép cây tăng 0,4%; thép cuộn cán nóng tăng 0,33%; trong khi thép thanh giảm 0,35%.

Nông sản: Đồng loạt tăng giá, lúa mì bật mạnh

Giá lúa mì, ngô và đậu tương tại Mỹ đều tăng trong tuần qua, riêng lúa mỳ tăng mạnh 7% do lo ngại về sản lượng vụ thu hoạch tại Nga và các nước xuất khẩu khác suy giảm.

Trên sàn Chicago, giá lúa mì kỳ hạn tháng 7/2024 tăng 3/4 US cent lên 6,97-1/4 USD/bushel và cả tuần tăng 7%. Giá ngô kỳ hạn tương tự tăng 3/4 US cent lên 4,64-3/4 USD/bushel và cả tuần tăng 2,7%. Giá đậu tương giao cùng kỳ hạn tăng 8-3/4 US cent lên 12,48 USD/bushel và cả tuần tăng 1,6%.

Nguyên liệu công nghiệp: Đường, cao su và cà phê cùng tăng giá, dầu cọ

Kết thúc tuần giao dịch vừa qua, giá đường thô kỳ hạn tháng 7/2024 trên sàn ICE tăng 0,15 US cent (+0,8%) lên 18,41 US cent/lb. Tính chung cả tuần, giá đường tăng 1,5%. Đồng thời, giá đường trắng kỳ hạn tháng 8/2024 trên sàn London tăng 1,1% lên 545,9 USD/tấn.

Sản lượng đường tại khu vực Trung Nam Brazil trong nửa đầu tháng 5/2024 dự kiến tăng 6,3% so với cùng kỳ năm ngoái lên 2,7 triệu tấn, các nhà phân tích thuộc S&P Global Commodity Insights cho biết. Bộ Nông nghiệp Mỹ dự kiến sản lượng đường niên vụ 2024-2025 (từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025) sẽ tăng lên mức cao kỷ lục 186 triệu tấn, trong khi nhu cầu đạt mức cao kỷ lục 178,8 triệu tấn.

Giá cà phê robusta tăng gần 2% và có tuần tăng 11% trong bối cảnh hoạt động mua vào đầu cơ, song mối hoài nghi về xu hướng tăng bền vững ngày càng tăng khi nguồn cung được cải thiện. Cụ thể, giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 7/2024 trên sàn London tăng 73 USD (+1,9%) lên 3.892 USD/tấn, sau khi giảm 2,5% trong phiên trước đó.

Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 7/2024 trên sàn ICE tăng 1,2% lên 2,1825 USD/lb, tính chung cả tuần tăng 4,8%.

Giá cao su tại Nhật Bản tăng phiên thứ 3 liên tiếp và thiết lập mức tăng hàng tuần dài nhất trong 4 tháng, theo xu hướng giá tại nước sản xuất hàng đầu Thái Lan tăng mạnh, cùng với đó là JPY suy yếu cũng hỗ trợ thị trường.

Cụ thể, giá cao su kỳ hạn tháng 10/2024 trên sàn Osaka (OSE) tăng 3,4 JPY (+1,04%) lên 331,3 JPY (2,11 USD)/kg – cao nhất kể từ ngày 9/4/2024. Tính chung cả tuần, giá cao su tăng 2,89% – tuần tăng thứ 3 liên tiếp – chuỗi tăng hàng tuần dài nhất kể từ cuối tháng 1/2024. Đồng thời, giá cao su kỳ hạn tháng 9/2024 trên sàn SHFE tăng 100 CNY lên 15.025 CNY (2.073,84 USD)/tấn; cao su kỳ hạn tháng 6/2024 trên sàn Singapore tăng 1,2% lên 173,9 US cent/kg.

Giá dầu cọ tại Malaysia giảm do sản lượng tăng làm lu mờ sự suy yếu của đồng ringgit và dự kiến nhu cầu sẽ được cải thiện, sau khi giá dầu thực vật khác trong tuần tăng mạnh hơn so với dầu cọ.

Cụ thể, giá dầu cọ kỳ hạn tháng 8/2024 trên sàn Bursa Malaysia giảm 8 ringgit (-0,21%) về 3.886 ringgit (825,05 USD)/tấn, sau khi tăng lên 3.932 ringgit/tấn trong đầu phiên giao dịch.

Giá một số mặt hàng trên thị trường quốc tế tuần qua

(Nguồn: Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại, Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam) (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg). (USD Cent/lb | 1USD = 100cent | 1Lb ~ 0,45Kg | Đơn vị giao dịch: lot, 1 lot = 10 tấn).

(Nguồn: Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại, Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam)

(1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

(USD Cent/lb | 1USD = 100cent | 1Lb ~ 0,45Kg | Đơn vị giao dịch: lot, 1 lot = 10 tấn).

Nguồn: TNCK

Tin Liên QuanMUST READ

TIN MỚI NHẤT

iOS 18 cuối cùng cũng cung cấp tính năng tùy chỉnh mức độ khử tiếng ồn được mong đợi từ lâu cho AirPods Pro 2.
Trước sự đột phá của các giải pháp công nghệ cùng với sự gia tăng kỳ vọng của khách...
NIM 2024 sẽ cải thiện, nhưng không tăng cao Biên lãi ròng (NIM - Net Interest Margin) là thước...
- Advertisement -

Xiaomi và Thế Giới Di Động hợp tác mở bán độc quyền Redmi 13

Chỉ sau 1 tuần mở bán tại Thế Giới Di Động và Điện Máy Xanh, Redmi 13 của Xiaomi...

Quả bóng Euro 2024 có công nghệ gì đặc biệt?

Quả bóng được sử dụng trong Giải vô địch bóng đá châu Âu (Euro 2024) được trang bị nhiều công nghệ tiên tiến hơn so với những quả bóng trước đây giúp các trọng tài thực hiện công việc của họ tốt hơn.
- Advertisement -